Có nhiều định nghĩa khác nhau về SGK, tựu trung có thể hiểu SGK là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học.
Đặc biệt, phải xác định rõ mục tiêu giáo dục và việc đổi mới SGK là công đoạn rút cục trong quá trình đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục. Cái hay ở chỗ là chỉ cần một bộ SGK in đen trắng trên giấy xấu đã được nhiều thế hệ trong một gia đình giữ gìn, chuyền tay nhau học tập. Trong kháng chiến chống Pháp, với đích xây dựng một nền giáo dục thích hợp với chế độ mới, chúng ta đã tiến hành cuộc cách tân giáo dục đầu tiên.
Thế nên đổi mới giáo dục không thể tách rời việc canh tân sư phạm. Tuy nhiên, sau một thời gian "lưu hành", SGK đã "phát lộ" nhiều bất cập và cho đến bữa nay, có thể thấy rằng SGK không chỉ là gánh nặng với học sinh, với thầy, cô giáo mà còn kéo theo nhiều hệ lụy cho từng lớp.
"Muốn thắng trong kinh tế, trước hết phải thắng trong giáo dục", chúng ta cần hình thành một triết lý giáo dục riêng mang đặc thù Việt Nam và định hình rõ đích giáo dục.
Thôi thì dù thất vọng nhưng vẫn tiếp chuyện phải hy vọng! nền móng nào để xây dựng bộ SGK chuẩn? Cho đến nay, đây vẫn là một câu hỏi chưa cho câu trả lời chính xác. Nếu không có cách nhìn hệ thống, tư duy khoa học là lộ trình cụ thể thì công cuộc cải cách giáo dục không chỉ như "dã tràng xe cát" mà còn để lại nhiều hệ lụy cho các thế hệ người Việt trong mai sau.
Tiếp đó, sau 4 năm phóng thích miền Nam hợp nhất đất nước, năm 1979, nhằm thống nhất nền giáo dục chung cho cả nước, cuộc cách tân giáo dục lần thứ ba được tiến hành với việc xây dựng hệ thống giáo dục phổ quát 12 năm.
Nếu không có những người thầy tâm huyết, trí tuệ sẽ không có những tư cách, những tuấn kiệt cho giang sơn. Với một chương trình giáo dục không còn thích hợp với tầng lớp hiện đại, không bắt kịp với xu thế phát triển của thế giới thì tất nhiên phải đổi thay. Cũng có rất nhiều tiêu chí được đặt ra với loại sách này. Trong một thế giới hội nhập với sự vận động đến bất tận của kiến thức, không thể tiếp kiến chạy đuổi để tạo ra những cỗ máy có thể nạp đầy tri thức mà phải tạo ra những con người có khả năng làm chủ tri thức, biết độc lập suy nghĩ và giàu khả năng tư duy sáng tạo, biết sống, cống hiến bằng trái tim, bằng nghĩa vụ với giang san, với dân tộc.
Thứ nhất, việc xây dựng chương trình học còn thiếu nhiều tri thức, kể cả thiếu một số môn cốt lõi về khoa học tư duy, về kỹ năng sống, khả năng sáng tạo.
Vì sao bộ SGK được xây dựng công phu với sự tham dự của đông đảo giới khoa học lại có kết quả như vậy? Vấn đề không chỉ là chuyện 3 cấp học với hàng chục môn, hàng trăm quyển sách, những chi tiết chưa chuẩn xác… mà là tư duy của những người làm quản lý giáo dục, những người làm SGK cứ bâng khuâng giữa dòng! Một nhà khoa học giáo dục đã chính trực nêu lên 6 vấn đề của SGK bây chừ. Thế nhưng thay đổi ra sao, trên nền móng nào, thực hành vào thời điểm nào… lại là cả vấn đề.
Một lần nữa, SGK lại được "xới" lên với hàng loạt vấn đề như: Quá nặng về tri thức nhưng càng ngày càng xa cách thực tại và không khuyến khích được tư duy sáng tạo của học trò; nội dung thay đổi và canh tân quá nhiều trong thời kì ngắn; khâu tổ chức biên soạn cũng có không ít vấn đề… Câu chuyện SGK với những khuyết thiếu hoặc quá thừa không chỉ làm lãng phí tiền bạc, thời kì mà còn đặt lên vai học trò, đay nghiến những áp lực không đáng có.
Thứ tư, SGK hiện giờ thiếu tính xuyên môn trong cấu trúc chương trình. Chúng ta đang giáo dục con người theo cách tiêu cực. Để điều đó trở thành hiện thực thì không chỉ tạo dựng cơ sở vật chất cho giáo dục - đào tạo mà còn phải thay đổi tư duy, nhận thức của những người thầy (bởi họ chính là cầu nối đưa mọi sự cách tân giáo dục đến với học sinh). TS Trần hoá công, nguyên Bộ trưởng Bộ GD-ĐT cho rằng: Chúng ta phải đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục, trong đó có rất nhiều việc phải làm chứ không phải chỉ có chằm chằm nghĩ đến chuyện viết lại SGK.
Thứ ba, những tri thức dùng lối dạy đồng tâm, xuyên suốt các lớp là phương pháp có tính sư phạm cao, do vậy bộ SGK phải có một tổng chủ biên quán xuyến từ đầu đến cuối. Thứ sáu, việc chọn lựa khối lượng và thuộc tính các đơn vị kiến thức đưa vào chương trình nhiều khi chưa có tính sư phạm, còn quá tải, sai thực tại… Một vị lãnh đạo của Bộ GD-ĐT cũng dìm: Nội dung và phương pháp giáo dục lạc hậu, nặng về dạy chữ, gây hiện tượng quá tải không chỉ đối với học trò mà còn với công tác quản lý… Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy cải tiến SGK là khôn cùng cần thiết.
Nếu tìm hiểu tiến trình phát triển của ngành giáo dục nước nhà gần một thế kỷ qua, mỗi lần cải cách giáo dục phổ quát là một lần… đổi thay sách giáo khoa.
Đến năm 1956, sau hai năm "từng đoàn quân thắng lợi tiến về Thủ đô", để thống nhất nền giáo dục trong chiến khu kháng chiến và những vùng địch tạm chiếm, một cuộc cải cách giáo dục mới được tiến hành. Một vấn đề nữa, đổi mới giáo dục đào tạo phải được đặt trong tổng thể nền kinh tế - xã hội và những dự báo phát triển trong ngày mai. Cốt lõi của giáo dục là dạy người và dạy làm người.
Từ đó đổi mới phương pháp dạy và học trên cơ sở coi người học là một chủ thể sáng tạo đầy tiềm năng để khêu gợi tiềm năng ấy mở ra và hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống tầng lớp. Kinh nghiệm từ những lần canh tân giáo dục trong lịch sử cũng như những lần đổi thay SGK trước đây không cho phép biến những "cải tiến" trong giáo dục - đào tạo thành "cải lùi".
Theo Phó chủ toạ Tổ chức phát triển quốc tế chuyên nghiệp Pearson - Sherry Preiss, "một cuốn SGK phải sống và chuyển động, kiến tạo và sáng tạo những tri thức của người học, của giáo viên và cộng đồng".
Thuật ngữ SGK còn được hiểu là một loại sách chuẩn cho một ngành học. Với chức năng tự thân, SGK có vai trò đặc biệt quan yếu trong tiến trình nhận thức của học sinh, chứa đựng hàm lượng căn bản nhất về tri thức và là nền móng của tư duy sau này của đời người. Sự nghiệp giáo dục đối với Việt Nam không chỉ là động lực cho kinh tế mà còn là nguyên tố để chấn hưng văn hóa, gìn giữ và phát huy các giá trị Việt Nam.
Không ít kinh nghiệm soạn SGK của nước ngoài đã được thu nạp và theo một nhà giáo dục học thì có đến 500 nhà khoa học đã tham dự biên soạn và giám định bộ SGK này.
Lần cải cách SGK thứ tư tiến hành vào năm 2002 được thực hành một cách bài bản hơn: Xây dựng chương trình, soạn tài liệu dạy thử nghiệm rồi mới làm SGK chính thức. Thế nhưng chúng ta đã không làm được điều ấy nên kiến thức bị phân khúc, tách rời, đứt quãng.
Nếu chỉ quan hoài đến việc viết lại sách sẽ không giải quyết được vấn đề gì… Như vậy, vấn đề đặt ra là xây dựng nội dung chương trình dạy học phải theo hướng giảm tải, kết cấu đồng bộ, hợp lý giữa giáo dục tư cách, lối sống với giáo dục kiến thức - văn hóa - khoa học - công nghệ, giáo dục tư duy sáng tạo, kỹ năng sống, kỹ năng thực hành.
Do đó, trước khi muốn viết lại sách để giáo dục thì nên cách tân lại phương pháp dạy và học, đổi mới định hướng cho chương trình, nội dung và phương pháp cho các bậc học. Ba cuộc cách tân giáo dục phổ quát đã làm tròn sứ mạng trong những thời đoạn lịch sử nhất thiết. Theo đó, bộ SGK mới được viết cho chương trình giáo dục phổ biến 10 năm, thay vì 9 năm như thời kháng chiến.
Thứ hai, SGK hiện định vị không đúng vai trò của các môn học trong cấu trúc kiến thức (ví dụ, ngoại ngữ có vai trò quan trọng trong đời sống hiện tại nhưng lại là môn tự chọn, đưa vào chương trình từ lớp 3). Thứ năm, thiếu tính liên thông về kiến thức. Đã quá nhiều năm chúng ta kỳ vọng vào một bộ SGK chuẩn trong thời kỳ hội nhập, nhưng rồi vẫn thất vọng đến tận hiện nay.
Học trò Việt Nam cần có một chương trình đào tạo mới và bộ SGK tích hợp những tri thức căn bản, những giá trị văn minh của dân tộc và nhân loại, được xây dựng một cách có hệ thống mang tính đặc thù, đáp ứng mục tiêu đào tạo nguồn nhân công của đất nước chứ không phải là sự chắp vá, vay hay áp đặt một cách thô thiển công nghệ giáo dục từ các nước khác.
Vừa viết sách, vừa hình thành chương trình giáo dục trong bối cảnh hết sức khó khăn, nhưng nền tảng tri thức từ những cuốn SGK ấy đã tạo nên nhiều nhân tài phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước. Trong một cuộc đáp phỏng vấn báo chí, GS. Theo Đại tự vị tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), SGK là sách soạn theo chương trình, dùng để dạy và học trong trường phổ thông.
Những cuốn sách giáo khoa trước tiên viết mộc mạc, in trên giấy bản đã xuất hiện vào năm 1950.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét